Bị người khác đăng ký mất nhãn hiệu: Phản đối, hủy bỏ và chứng minh sử dụng trước

Bị người khác đăng ký mất nhãn hiệu: Phản đối, hủy bỏ và chứng minh sử dụng trước

g

Luật sư Trần Thanh Tùng

05/08/2026 • 10 phút đọc

Chia se:

Bạn phát hiện thương hiệu mình dùng nhiều năm đã bị người khác đăng ký mất nhãn hiệu tại Cục Sở hữu trí tuệ? Đây là tình huống khá phổ biến vì Việt Nam áp dụng nguyên tắc "nộp đơn đầu tiên". Tuy nhiên, pháp luật vẫn có công cụ để giành lại quyền: phản đối đơn, yêu cầu hủy bỏ hoặc chấm dứt hiệu lực văn bằng, và chứng minh việc sử dụng trước kết hợp với dụng ý xấu của bên nộp đơn. Bài viết dưới đây phân tích từng phương án theo Luật Sở hữu trí tuệ đã sửa đổi bởi Luật số 131/2025/QH15 (hiệu lực từ 01/4/2026).

Vì sao nhãn hiệu có thể bị người khác đăng ký mất?

Điều 90 Luật Sở hữu trí tuệ quy định: khi có nhiều đơn đăng ký nhãn hiệu trùng hoặc tương tự gây nhầm lẫn cho cùng loại hàng hóa, dịch vụ, văn bằng bảo hộ chỉ được cấp cho đơn hợp lệ có ngày ưu tiên hoặc ngày nộp đơn sớm nhất. Nói cách khác, quyền đối với nhãn hiệu thông thường phát sinh từ việc đăng ký, không phải từ việc sử dụng trước.

Các tình huống thường gặp:

  • Doanh nghiệp kinh doanh nhiều năm nhưng chưa nộp đơn, bị đối thủ, nhà phân phối hoặc cá nhân "đầu cơ" nộp trước.
  • Đối tác gia công, đại lý, cựu nhân sự biết rõ thương hiệu và tự nộp đơn đứng tên mình.
  • Thương hiệu nước ngoài chưa đăng ký tại Việt Nam bị bên trong nước đăng ký trước để bán lại hoặc chặn nhập khẩu.

Lưu ý thực tiễn: Khác với sáng chế và kiểu dáng công nghiệp, pháp luật Việt Nam không có quyền sử dụng trước đối với nhãn hiệu thông thường. Việc "dùng trước" chỉ có giá trị khi gắn với các căn cứ cụ thể như nhãn hiệu được sử dụng rộng rãi/nổi tiếng, dụng ý xấu, tên thương mại đang sử dụng hoặc quyền tác giả đối với logo.

Bước 1: Xác định đơn/văn bằng của bên kia đang ở giai đoạn nào

Phương án xử lý phụ thuộc hoàn toàn vào tình trạng pháp lý của nhãn hiệu bên kia. Bạn cần tra cứu trên cơ sở dữ liệu của Cục Sở hữu trí tuệ (WIPO Publish/IP Lib) để biết số đơn, ngày nộp, ngày công bố, nhóm hàng hóa/dịch vụ và tình trạng.

Tình trạng nhãn hiệu của bên kiaCông cụ xử lý chínhThời hạn cần lưu ý
Đơn đã công bố, chưa cấp văn bằngPhản đối đơn (Điều 112a)03 tháng kể từ ngày đơn được công bố
Quá hạn phản đối nhưng chưa cấp văn bằngÝ kiến người thứ ba (Điều 112)Trước ngày ra quyết định cấp/từ chối
Đã cấp văn bằng – có căn cứ hủy bỏYêu cầu hủy bỏ hiệu lực (Điều 96)05 năm từ ngày cấp; không giới hạn nếu có dụng ý xấu
Đã cấp văn bằng nhưng không sử dụngYêu cầu chấm dứt hiệu lực (Điều 95)Không sử dụng 05 năm liên tục, không có lý do chính đáng
Bên kia kiện ngược bạn xâm phạmPhản tố, yêu cầu tạm dừng, chứng minh quyềnTheo thủ tục tố tụng/xử phạt

Bước 2: Phản đối đơn đăng ký – phương án nhanh và ít tốn kém nhất

Theo điểm b khoản 1 Điều 112a Luật Sở hữu trí tuệ (sửa đổi bởi Luật 131/2025/QH15), bất kỳ người thứ ba nào cũng có quyền phản đối việc cấp văn bằng bảo hộ trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày đơn đăng ký nhãn hiệu được công bố. Đây là thời hạn đã được rút ngắn so với trước đây, đồng thời thời gian công bố đơn và thẩm định nội dung (05 tháng) cũng giảm mạnh, nên "cửa sổ" để hành động hẹp hơn nhiều.

Căn cứ phản đối thường dùng:

  1. Dụng ý xấu của người nộp đơn (điểm b khoản 1 Điều 117).
  2. Nhãn hiệu trùng/tương tự với nhãn hiệu nổi tiếng hoặc nhãn hiệu được sử dụng, thừa nhận rộng rãi của bạn.
  3. Nhãn hiệu trùng/tương tự với tên thương mại đang được sử dụng của bạn, gây nhầm lẫn về chủ thể kinh doanh (xem thêm phân biệt tên thương mại và nhãn hiệu).
  4. Nhãn hiệu xâm phạm quyền tác giả đối với logo, hình vẽ bạn đã sáng tạo hoặc đăng ký.
  5. Bạn đã nộp đơn trước (ngày nộp/ưu tiên sớm hơn).

Hồ sơ phản đối gồm văn bản phản đối nêu rõ lý do, kèm chứng cứ và nộp phí theo quy định. Quy trình chi tiết bạn có thể tham khảo tại bài quy trình phản đối đơn đăng ký nhãn hiệu.

Lưu ý thực tiễn: Luật 131/2025/QH15 bổ sung khoản 3a Điều 114 cho phép tạm dừng thẩm định nội dung khi Tòa án có thông báo thụ lý vụ án do người thứ ba khởi kiện về quyền đăng ký hoặc về nhãn hiệu được đăng ký với dụng ý xấu. Trong tranh chấp phức tạp, khởi kiện song song có thể giúp "đóng băng" đơn của bên kia.

Bước 3: Yêu cầu hủy bỏ hiệu lực văn bằng đã cấp

Nếu bên kia đã được cấp Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu, bạn vẫn có thể yêu cầu Cục Sở hữu trí tuệ hủy bỏ hiệu lực theo Điều 96. Các căn cứ quan trọng:

  • Người nộp đơn đăng ký nhãn hiệu với dụng ý xấu – căn cứ hủy bỏ toàn bộ hiệu lực, không bị giới hạn thời hiệu.
  • Người nộp đơn không có quyền đăng ký (ví dụ đại lý, nhà phân phối đăng ký nhãn hiệu của chủ hàng khi không được phép).
  • Nhãn hiệu không đáp ứng điều kiện bảo hộ tại thời điểm cấp (trùng/tương tự nhãn hiệu nổi tiếng, tên thương mại đang dùng, quyền tác giả…).
  • Nhãn hiệu không đáp ứng nguyên tắc nộp đơn đầu tiên tại Điều 90 – căn cứ được Luật 131/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung rõ cho nhãn hiệu.

Đối với nhãn hiệu, thời hiệu yêu cầu hủy bỏ theo các căn cứ thông thường là 05 năm kể từ ngày cấp văn bằng; riêng trường hợp dụng ý xấu thì có thể yêu cầu trong suốt thời hạn bảo hộ. Hồ sơ, trình tự chi tiết xem tại thủ tục hủy bỏ hiệu lực văn bằng bảo hộ nhãn hiệu.

Chứng minh "dụng ý xấu" như thế nào?

Theo hướng dẫn của Bộ Khoa học và Công nghệ, để kết luận có dụng ý xấu thường phải chứng minh đồng thời hai yếu tố:

  • Yếu tố nhận biết: tại thời điểm nộp đơn, người nộp đơn biết hoặc có cơ sở để biết nhãn hiệu của bạn đang được sử dụng rộng rãi tại Việt Nam hoặc nổi tiếng ở nước ngoài, cho hàng hóa/dịch vụ trùng hoặc tương tự.
  • Yếu tố động cơ: việc đăng ký nhằm lợi dụng danh tiếng để thu lợi, bán lại, cấp phép, chuyển giao quyền đăng ký, ngăn cản bạn gia nhập thị trường hoặc hạn chế cạnh tranh. Việc nộp hàng loạt nhãn hiệu của người khác vượt quá năng lực kinh doanh thông thường cũng là dấu hiệu đáng chú ý.

Chứng cứ có sức nặng: hợp đồng đại lý, gia công, phân phối; email, tin nhắn trao đổi; quan hệ lao động trước đây; lời đề nghị "bán lại" nhãn hiệu; danh sách các đơn khác của cùng người nộp.

Bước 4: Chứng minh sử dụng trước – chuẩn bị chứng cứ đúng cách

Dù không tạo ra quyền độc lập, chứng cứ sử dụng trước là "xương sống" của gần như mọi hồ sơ phản đối, hủy bỏ. Tài liệu cần thể hiện rõ dấu hiệu, sản phẩm/dịch vụ, thời gian và phạm vi sử dụng trước ngày nộp đơn của bên kia:

  • Hóa đơn, tờ khai hải quan, hợp đồng mua bán có thể hiện nhãn hiệu.
  • Hình ảnh bao bì, biển hiệu, catalogue có xác định được thời điểm.
  • Chi phí và kết quả quảng cáo, bài báo, lượng theo dõi mạng xã hội, doanh thu sàn thương mại điện tử.
  • Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả đối với logo (nếu có).
  • Vi bằng do thừa phát lại lập ghi nhận website, fanpage, gian hàng trực tuyến.

Lưu ý thực tiễn: Tài liệu nên là bản gốc hoặc bản sao chứng thực; tài liệu nước ngoài cần hợp pháp hóa lãnh sự và dịch công chứng theo yêu cầu. Chứng cứ rời rạc, không có ngày tháng hoặc chỉ là ảnh chụp màn hình tự in thường bị đánh giá thấp.

Bước 5: Yêu cầu chấm dứt hiệu lực do không sử dụng

Nhiều nhãn hiệu bị chiếm chỉ để "giữ chỗ" mà không thực sự kinh doanh. Theo điểm d khoản 1 Điều 95, văn bằng có thể bị chấm dứt hiệu lực nếu nhãn hiệu không được chủ sở hữu hoặc người được phép sử dụng trong thời hạn 05 năm liên tục trước ngày có yêu cầu mà không có lý do chính đáng. Hướng dẫn mới theo Thông tư 10/2026/TT-BKHCN nhấn mạnh việc sử dụng phải thực chất, mang tính thương mại và công khai tại Việt Nam; sử dụng mang tính hình thức hoặc nội bộ thường không được chấp nhận.

Luật 131/2025/QH15 còn cho phép người nộp đơn đề nghị tạm dừng thẩm định đơn của mình để yêu cầu chấm dứt hoặc hủy bỏ hiệu lực nhãn hiệu đang cản trở (khoản 3a Điều 114). Đây là chiến lược rất hữu ích: bạn vừa nộp đơn mới, vừa tấn công văn bằng cũ.

Song song: bảo vệ hoạt động kinh doanh hiện tại

Khi nhãn hiệu đã thuộc về người khác, bạn có thể bị khiếu nại xâm phạm trên sàn thương mại điện tử, bị yêu cầu xử phạt hoặc bị Hải quan tạm dừng hàng. Vì vậy cần:

Với thương hiệu xuất khẩu, hãy đăng ký song song ở thị trường mục tiêu qua đăng ký nhãn hiệu quốc tế để tránh bị chiếm ở nước ngoài.

Những sai lầm thường gặp

  • Bỏ lỡ thời hạn 03 tháng phản đối vì không theo dõi Công báo sở hữu công nghiệp.
  • Thương lượng trước, thu thập chứng cứ sau, khiến bên kia biết chiến lược và hợp thức hóa việc sử dụng.
  • Chỉ dựa vào việc "dùng trước" mà không chứng minh được dụng ý xấu, mức độ sử dụng rộng rãi hay quyền khác.
  • Tiếp tục dùng nhãn hiệu tranh chấp mà không đánh giá rủi ro xâm phạm.

Căn cứ pháp lý

  • Luật Sở hữu trí tuệ số 50/2005/QH11, sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 36/2009/QH12, 42/2019/QH14, 07/2022/QH15, 93/2025/QH15 và Luật số 131/2025/QH15 (hiệu lực từ 01/4/2026) – các Điều 74, 90, 95, 96, 112, 112a, 114, 117, 119.
  • Nghị định số 65/2023/NĐ-CP, sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 15/2026/NĐ-CP, 33/2026/NĐ-CP và 100/2026/NĐ-CP.
  • Thông tư số 10/2026/TT-BKHCN quy định chi tiết Luật Sở hữu trí tuệ và biện pháp thi hành Nghị định 65/2023/NĐ-CP (hiệu lực từ 01/4/2026).
  • Công ước Paris về bảo hộ sở hữu công nghiệp (Việt Nam là thành viên).

Luật Taga hỗ trợ giành lại nhãn hiệu

Mỗi vụ việc chiếm nhãn hiệu có điểm mạnh, điểm yếu khác nhau; kết quả phụ thuộc lớn vào chứng cứ và thời điểm hành động. Luật Taga cung cấp dịch vụ xử lý xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trọn gói: tra cứu, đánh giá căn cứ, soạn đơn phản đối, yêu cầu hủy bỏ/chấm dứt hiệu lực, nộp đơn đăng ký thay thế và đại diện tranh tụng.

Liên hệ ngay hotline 0968 856 464 hoặc qua trang liên hệ để luật sư sở hữu trí tuệ của Luật Taga đánh giá hồ sơ của bạn.

Câu hỏi thường gặp

Cần tư vấn thêm về vấn đề này?

Liên hệ Luật Taga để được luật sư tư vấn miễn phí

Gọi ngayZalo