Khởi kiện xâm phạm nhãn hiệu đòi bồi thường: Căn cứ tính và cách chứng minh thiệt hại

Khởi kiện xâm phạm nhãn hiệu đòi bồi thường: Căn cứ tính và cách chứng minh thiệt hại

g

Luật sư Trần Thanh Tùng

20/09/2026 • 10 phút đọc

Chia se:

Tổng quan

Khởi kiện xâm phạm nhãn hiệu đòi bồi thường là con đường pháp lý để chủ sở hữu nhãn hiệu buộc bên vi phạm phải trả tiền, khi thương lượng không thành, cho những tổn thất đã gây ra. Xử phạt hành chính chặn được hàng vi phạm, nhưng tiền phạt nộp vào ngân sách nhà nước. Thực tiễn cho thấy nhiều vụ thắng về hành vi xâm phạm nhưng mức bồi thường được chấp nhận thấp hơn yêu cầu, chủ yếu vì nguyên đơn không chứng minh được thiệt hại.

Bài viết trả lời hai câu hỏi: tính bồi thường theo căn cứ nào, và cần chứng cứ gì để Tòa án chấp nhận. Nội dung đã cập nhật Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi số 131/2025/QH15, có hiệu lực từ ngày 01/4/2026.

Điều kiện để yêu cầu bồi thường được chấp nhận

Nguyên đơn phải xác lập ba yếu tố nền tảng.

1. Chứng minh mình là chủ thể quyền

Theo Điều 203 Luật Sở hữu trí tuệ, nguyên đơn có nghĩa vụ chứng minh mình là chủ thể quyền. Với nhãn hiệu thông thường, chứng cứ là Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu (văn bằng bảo hộ) còn hiệu lực hoặc bản trích lục Sổ đăng ký quốc gia. Với nhãn hiệu nổi tiếng, nguyên đơn phải chứng minh tình trạng nổi tiếng. Nếu bạn chưa có văn bằng, việc đầu tiên là đăng ký bảo hộ nhãn hiệu, vì quyền đối với nhãn hiệu thông thường chỉ phát sinh từ đăng ký.

2. Chứng minh hành vi xâm phạm

Hành vi xâm phạm được xác định theo Điều 129 Luật Sở hữu trí tuệ. Đó là việc sử dụng dấu hiệu trùng hoặc tương tự cho hàng hóa, dịch vụ trùng hoặc tương tự mà không được phép, đến mức có khả năng gây nhầm lẫn. Kết luận giám định sở hữu công nghiệp là nguồn chứng cứ quan trọng. Lưu ý: Luật 131/2025/QH15 sửa khoản 5 Điều 201 và nói rõ kết luận giám định không kết luận về hành vi xâm phạm hay về vụ tranh chấp. Tòa án mới là cơ quan đánh giá cuối cùng.

3. Chứng minh thiệt hại thực tế và mối quan hệ nhân quả

Điều 82 Nghị định 65/2023/NĐ-CP quy định thiệt hại là tổn thất thực tế do hành vi xâm phạm trực tiếp gây ra. Tổn thất chỉ được coi là có thực khi có đủ ba căn cứ:

  • Lợi ích vật chất hoặc tinh thần là có thực và thuộc về người bị thiệt hại;
  • Người bị thiệt hại có khả năng đạt được lợi ích đó;
  • Lợi ích bị giảm sút hoặc mất đi sau khi hành vi xâm phạm xảy ra, và hành vi xâm phạm là nguyên nhân trực tiếp.

Doanh thu giảm có thể do thị trường, mùa vụ hay chính sách giá. Nếu không loại trừ được các yếu tố đó, Tòa án khó công nhận toàn bộ phần sụt giảm là do bên xâm phạm.

Các loại thiệt hại được bồi thường

Điều 204 Luật Sở hữu trí tuệ và các Điều 83–87 Nghị định 65/2023/NĐ-CP chia thiệt hại thành các nhóm sau:

Loại thiệt hạiNội dungCách xác định theo Nghị định 65/2023/NĐ-CP
Tổn thất về tài sảnGiá trị nhãn hiệu bị giảm sút hoặc mất điCăn cứ giá chuyển nhượng/li-xăng, giá trị góp vốn, giá trị nhãn hiệu trong tài sản doanh nghiệp, chi phí đầu tư tạo dựng (tiếp thị, quảng cáo…) (Điều 83)
Giảm sút thu nhập, lợi nhuậnThu nhập từ khai thác trực tiếp, cho thuê, li-xăng nhãn hiệu bị giảmSo sánh thu nhập, lợi nhuận, sản lượng tiêu thụ hoặc giá bán trước và sau khi xảy ra xâm phạm (Điều 85)
Tổn thất cơ hội kinh doanhKhoản thu nhập đáng lẽ có được nhưng bị mất (vd: đối tác hủy đàm phán li-xăng)Giá trị tính được thành tiền của khoản thu nhập bị mất (Điều 86)
Chi phí hợp lý để ngăn chặn, khắc phụcChi phí lưu kho hàng vi phạm, biện pháp khẩn cấp tạm thời, thuê luật sư, giám định, đăng cải chínhTheo chứng từ thực tế (Điều 87)
Thiệt hại tinh thầnTổn thất về uy tín, danh tiếngTòa án quyết định trong khung luật định (khoản 2 Điều 205)

Bốn căn cứ xác định mức bồi thường thiệt hại vật chất (Điều 205)

Khi chứng minh được hành vi xâm phạm đã gây thiệt hại vật chất, khoản 1 Điều 205 Luật Sở hữu trí tuệ cho phép nguyên đơn yêu cầu Tòa án quyết định mức bồi thường theo một trong các căn cứ sau:

Căn cứ a – Thiệt hại thực tế cộng lợi nhuận của bị đơn

Mức bồi thường là tổng thiệt hại vật chất tính bằng tiền, cộng với khoản lợi nhuận bị đơn thu được từ hành vi xâm phạm, nếu phần lợi nhuận bị giảm sút của nguyên đơn chưa được tính vào tổng thiệt hại vật chất. Căn cứ này thường cho con số cao nhất nhưng đòi hỏi chứng cứ về sổ sách của cả hai bên.

Căn cứ b – Giá li-xăng giả định

Mức bồi thường được tính bằng giá chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu, giả định rằng bị đơn được nguyên đơn cấp li-xăng trong phạm vi tương ứng với hành vi xâm phạm. Căn cứ này phù hợp khi chủ nhãn hiệu đã có hợp đồng li-xăng nhãn hiệu hoặc nhượng quyền với bên thứ ba, vì đó là "giá thị trường" thuyết phục nhất.

Căn cứ c – Cách tính khác phù hợp pháp luật

Chủ thể quyền có thể đưa ra phương pháp tính khác, miễn là phù hợp với quy định pháp luật. Ví dụ: dựa vào kết quả định giá tài sản trí tuệ do tổ chức thẩm định giá thực hiện.

Căn cứ d – Mức do Tòa án ấn định: tối đa 01 tỷ đồng

Nếu không thể xác định mức bồi thường theo các căn cứ a, b, c, Tòa án tự quyết định mức bồi thường tùy theo mức độ thiệt hại. Theo Luật 131/2025/QH15, mức trần là không quá một tỷ đồng, tăng gấp đôi so với mức 500 triệu đồng trước đây.

Lưu ý chuyển tiếp: Theo khoản 5 Điều 3 Luật 131/2025/QH15, vụ việc xâm phạm đã được cơ quan có thẩm quyền thụ lý trước ngày 01/4/2026 mà chưa giải quyết xong vẫn áp dụng quy định cũ. Mức trần mới chỉ áp dụng cho vụ việc thụ lý từ ngày 01/4/2026.

Bồi thường thiệt hại tinh thần và chi phí luật sư

Theo khoản 2 Điều 205 (sửa đổi bởi Luật 131/2025/QH15), nếu nguyên đơn chứng minh được thiệt hại về tinh thần, Tòa án quyết định mức bồi thường từ 10 lần đến 100 lần mức lương cơ sở. Trước đây khung này là từ 5 triệu đến 50 triệu đồng.

Ngoài khoản bồi thường, khoản 3 Điều 205 cho phép chủ thể quyền yêu cầu Tòa án buộc bên xâm phạm thanh toán chi phí hợp lý để thuê luật sư. Hãy lưu giữ đầy đủ hợp đồng dịch vụ pháp lý, hóa đơn và chứng từ thanh toán.

Cách chứng minh thiệt hại: bộ chứng cứ cần chuẩn bị

Theo khoản 3 Điều 82 Nghị định 65/2023/NĐ-CP, mức thiệt hại được xác định dựa trên chứng cứ các bên cung cấp, kể cả kết quả giám định và bản kê khai thiệt hại. Bản kê khai phải làm rõ căn cứ xác định và cách tính toán. Bộ chứng cứ nên gồm:

  1. Chứng cứ về hành vi và quy mô xâm phạm: vi bằng do Thừa phát lại lập, hóa đơn mua hàng vi phạm, ảnh chụp cửa hàng, gian hàng, bài đăng trực tuyến, biên bản xử lý hành chính hoặc biên bản tạm giữ hàng (nếu có).
  2. Chứng cứ tài chính của nguyên đơn: báo cáo tài chính, sổ sách doanh thu, sản lượng theo kỳ, đối chiếu giai đoạn trước và sau khi xâm phạm xảy ra.
  3. Chứng cứ về giá trị nhãn hiệu: hợp đồng li-xăng, nhượng quyền, chứng thư thẩm định giá, chi phí quảng cáo, tiếp thị đã đầu tư.
  4. Chứng cứ về lợi nhuận của bị đơn: số liệu bán hàng trên sàn thương mại điện tử, chứng từ thu giữ trong quá trình xử lý hành chính. Nếu không tự thu thập được, đề nghị Tòa án yêu cầu nơi lưu giữ cung cấp.
  5. Chứng cứ về chi phí hợp lý: hợp đồng và hóa đơn luật sư, giám định, lưu kho, đăng cải chính.
  6. Chứng cứ về tổn thất uy tín: khiếu nại của khách hàng nhầm lẫn hàng giả với hàng thật.

Lưu ý thực tiễn của luật sư: Đừng gộp mọi khoản sụt giảm doanh thu vào yêu cầu bồi thường. Hãy tách riêng phần sụt giảm có thể gắn với hành vi xâm phạm (cùng khu vực, cùng kênh bán, cùng thời điểm hàng vi phạm xuất hiện). Một yêu cầu có phương pháp tính rõ ràng, dù thấp hơn, thường thuyết phục Hội đồng xét xử hơn một con số lớn thiếu căn cứ.

Với vi phạm trực tuyến, Luật 131/2025/QH15 bổ sung biện pháp buộc gỡ bỏ, ẩn hoặc vô hiệu hóa truy cập nội dung, tài khoản vi phạm (khoản 7 Điều 202). Xem thêm: xử lý xâm phạm nhãn hiệu trên sàn thương mại điện tử.

Thẩm quyền và quy trình khởi kiện

Từ ngày 01/7/2025, theo Bộ luật Tố tụng dân sự sửa đổi bởi Luật số 85/2025/QH15, tranh chấp dân sự, kinh doanh, thương mại về quyền sở hữu trí tuệ được giải quyết sơ thẩm tại Tòa Sở hữu trí tuệ thuộc Tòa án nhân dân khu vực 2 – Hà Nội hoặc Tòa Sở hữu trí tuệ thuộc Tòa án nhân dân khu vực 1 – TP. Hồ Chí Minh (phạm vi lãnh thổ theo Nghị quyết 81/2025/UBTVQH15). Phúc thẩm do Tòa Kinh tế Tòa án nhân dân TP. Hà Nội hoặc TP. Hồ Chí Minh giải quyết.

Quy trình cơ bản gồm các bước:

  1. Thu thập chứng cứ và giám định (nếu cần);
  2. Gửi thông báo yêu cầu chấm dứt xâm phạm. Văn bản nêu rõ văn bằng bảo hộ và ấn định thời hạn hợp lý (Điều 88 Nghị định 65/2023/NĐ-CP);
  3. Nộp đơn khởi kiện kèm bản kê khai thiệt hại. Có thể đồng thời yêu cầu biện pháp khẩn cấp tạm thời theo Điều 206–207 Luật Sở hữu trí tuệ để ngăn hàng vi phạm tẩu tán;
  4. Hòa giải, tranh tụng và xét xử sơ thẩm, phúc thẩm (nếu có kháng cáo).

Về thời hiệu, yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng có thời hiệu 03 năm kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm (Điều 588 Bộ luật Dân sự 2015). Quy trình chi tiết tại tòa được trình bày trong bài tranh chấp quyền sở hữu trí tuệ tại tòa án Việt Nam.

Căn cứ pháp lý

  • Luật Sở hữu trí tuệ số 50/2005/QH11, sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 36/2009/QH12, 42/2019/QH14, 07/2022/QH15, 93/2025/QH15 và 131/2025/QH15 (hiệu lực 01/4/2026): Điều 129, 198b, 201, 202, 203, 204, 205, 206, 207.
  • Nghị định 65/2023/NĐ-CP, sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 15/2026/NĐ-CP, 33/2026/NĐ-CP và 100/2026/NĐ-CP: Điều 82–88 về xác định thiệt hại và quyền tự bảo vệ.
  • Bộ luật Dân sự 2015: Điều 588 về thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại.
  • Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 85/2025/QH15 (hiệu lực 01/7/2025).
  • Nghị quyết 81/2025/UBTVQH15 về thành lập Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân khu vực và phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ.

Luật Taga đồng hành cùng chủ nhãn hiệu

Mức bồi thường phụ thuộc rất lớn vào chất lượng bộ chứng cứ thiệt hại được chuẩn bị ngay từ trước khi nộp đơn. Với dịch vụ xử lý xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, Luật Taga hỗ trợ đánh giá vụ việc, thu thập chứng cứ, phối hợp giám định, xây dựng phương pháp tính thiệt hại và đại diện tranh tụng. Kết quả cuối cùng do Tòa án quyết định.

📞 Hotline: 0968 856 464 – hoặc liên hệ Luật Taga để được luật sư sở hữu trí tuệ tư vấn hồ sơ cụ thể của bạn.

Câu hỏi thường gặp

Cần tư vấn thêm về vấn đề này?

Liên hệ Luật Taga để được luật sư tư vấn miễn phí

Gọi ngayZalo